1. Nokia: *#06# : Hiển thị số nhận dạng (IMEI). *#0000# (hoặc *#9999#) : Hiển thị phiên bản phần mềm: - Dòng thứ 1: phiên bản phần mềm. - Dòng thứ 2: Ngày phần mềm được sản xuất. - Dòng thứ 3: Kiểu ĐT. *3370# : Khởi động lại máy. *#7780# : Khôi phục lại các cài đặt mặc định của nhà sản xuất. *#92702689# : Hiển thị các thông tin của máy: - Màn hình thứ 1: Hiển thị số nhận dạng (IMEI). - Màn hình thứ 2: Ngày sản xuất của ĐT (made) - Màn hình thứ 3: Ngày ĐT được bán (purchasing date) - Màn hình thứ 4: Ngày sửa chữa cuối cùng (repaired) - Màn hình thứ 5: Chuyển đổi dữ liệu người dùng (transfer user data) Sau khi dùng mã số này xong, bạn phải tắt máy và bật máy lại, để trở lại trạng thái ban đầu. *#92702689# : Thông tin về SIMLOCK. *#2640# : Hiển thị mã bí mật đang sử dụng. 12345 : Mật mã bảo vệ mặc mặc định của máy (sử dụng khi được yêu cầu).
2. Samsung:
*#06# : Hiển thị số nhận dạng (IMEI). *#9999# (hoặc *#9998*9999#):Hiển thị phiên bản phần mềm. *#8888# (hoặc *#9998*8888#):Hiển thị phiên bản phần cứng. *#0523# : Chỉnh độ phân giải màn hình. *#9998*842# : Thử chế độ rung. *#9998*228# : Kiểm tra thông số hoạt động của pin. *2767*688# : Khôi phục lại các cài đặt mặc định của nhà sản xuất. 1111 : Mật mã bảo vệ mặc mặc định của máy (sử dụng khi được yêu cầu).
3. Sony Ericsson:
*#06# : Hiển thị số nhận dạng (IMEI). *#7353273# : Hãy tháo simcard rồi dùng mã này để kiểm tra phiên bản phần mềm. 0# : Truy cập số điện thoại gọi cuối cùng. > * < < * < * : Truy cập menu bí mật. < * * < : Thông tin về SIMLOCK. **04*0000*0000*0000# : Mở điện thoại khi khôngcó SIM. 0000 hoặc 00000000: Mật mã bảo vệ mặc mặc định của máy (sử dụng khi được yêu cầu).
4. Motorola:
*#06# : Hiển thị số nhận dạng (IMEI). 1234 : Mật mã bảo vệ mặc mặc định của máy (sử dụng khi được yêu cầu). 5. Siemens: *#06# : Hiển thị số nhận dạng (IMEI). *#06# : Hãy tháo simcard và nhấn mã này rồi giữ phím dài phía trên bên trái để kiểm tra phiên bản phần mềm. *#0606# : Hãy tháo simcard rồi dùng mã này để hiện thị mã bí mật 0000 : Mật mã bảo vệ mặc mặc định của máy (sử dụng khi được yêu cầu).
6. Ericsson:
*#06# : Hiển thị số nhận dạng (IMEI). >* : Hiển thị phiên bản phần mềm. 0000 : Mật mã bảo vệ mặc mặc định của máy (sử dụng khi được yêu cầu).
7. Philips:
*#06# : Hiển thị số nhận dạng (IMEI). *#8377*# : Hiển thị phiên bản phần mềm. *#3333*# : Hiển thị danh sách bị khóa. *#7489*# : Hiển thị mã bí mật.
8.Mã số của Iphone
* 3001 # 12345 # * ấn Call. Nhập Field Mode.Field chế độ cho thấy nhiều người trong số các cài đặt bên trong của iPhone của bạn, cụ thể up-to-date mạng và thông tin di động. * # 06 # số IMEI của bạn. Không cần phải ấn Call.IMEI là định danh duy nhất cho phần cứng điện thoại di động của bạn. Cùng với thông tin SIM của bạn nó nhận dạng bạn với mạng nhà cung cấp. * 777 # ấn Call. Số dư tài khoản trả trước cho iPhone. * 225 # ấn Call. Bill Balance. (Chỉ trả sau) * 646 # ấn Call. Kiểm tra phút. (Chỉ trả sau) Ba là khá tự giải thích. * # 21 # ấn Call. Thiết lập xét hỏi đối với cuộc gọi forwards.Discover các cài đặt cho chuyển tiếp cuộc gọi của bạn. Bạn sẽ xem liệu bạn có thoại, dữ liệu, fax, sms, sync, async, truy cập gói dữ liệu, và truy cập pad chuyển tiếp cuộc gọi được kích hoạt hay vô hiệu hoá. * # 30 # ấn Call. Kêu gọi trình bày dòng check.This hiển thị cho dù bạn đã kích hoạt hay vô hiệu hóa trình bày của các dòng kêu gọi, có lẽ là số của bên đặt cuộc gọi. * # 76 # ấn Call. Kiểm tra trình bày đường kết nối được kích hoạt hoặc not.State liệu trình bày đường kết nối được kích hoạt hay vô hiệu hoá. Có lẽ tương tự như trình bày dòng gọi. * # 43 # ấn Call. Xác định nếu cuộc gọi chờ đợi enabled.Displays gọi là tình trạng chờ đợi cho thoại, dữ liệu, fax, sms, đồng bộ dữ liệu, dữ liệu async, truy cập gói dữ liệu và truy cập pad. Mỗi sản phẩm là hoặc kích hoạt hay vô hiệu hoá. * # 61 # ấn Call. Kiểm tra số cho calls.Show unanswered số cho chuyển tiếp cuộc gọi thoại khi gọi là ngỏ. Hiển thị thêm các tùy chọn cho dữ liệu, fax, sms, sync, async, truy cập gói dữ liệu và truy cập pad. * # 62 # ấn Call. Kiểm tra số để chuyển tiếp cuộc gọi nếu không có dịch vụ là available.Just như trước đây, ngoại trừ không có dịch vụ chứ không phải là không có câu trả lời tình huống. * # 67 # ấn Call. Kiểm tra số để chuyển tiếp cuộc gọi khi iPhone là busy.And một lần nữa, nhưng khi iPhone là bận rộn. * # 33 # ấn Call. Kiểm tra bars.Check điều khiển cuộc gọi tất cả các nghi can thông thường (thoại, dữ liệu, fax, sms, vv) để xem liệu chặn cuộc gọi được kích hoạt hay vô hiệu hóa để gửi đi.
Pierre Fermat sinh ngày 17 tháng 8, 1601 tại Beaumont-de-Lomagne thuộc Tarn-et-Garonne. Xuất thân từ một gia đình thương gia khá giả, ông theo học ở Toulouse và có cử nhân luật dân sự. Nguyên văn tờ khai sinh của Pierre: « Pierre, fils de Dominique Fermat, Bourgoys et segont consul de la ville de Beamont, a esté baptisé le 20 août 1601, parrin Pierre Fermat, marchant et frère dudit Dominique, marrine Jeanne Cazeneuve, par moy Dumas vicaire » Năm 1630 ông làm cố vấn cho vua tại Phòng thỉnh cầu (Chambre des requêtes) tại Pháp viện (Parlement) Toulouse và kể từ năm 1648 ông được giữ những chức vụ quan trọng hơn tại Phòng hình sự (Chambre criminelle) và Grand' Chambre. Từ năm 1648 ông trở thành hội viên Phòng Khiếu nại tại Castres (Chambre de l'Edit de Castres) mà vai trò là giải quyết những tranh chấp giữa những người Hồi giáo và Thiên chúa giáo.
Chức vụ chánh án (magistrat) bảo đảm cho ông lương bổng dồi dào cùng với miếng đất 140 mẫu tây để trồng trọt. Và cũng nhờ chức vụ cao ở Pháp viện mà họ ông được thêm chữ "de" quí tộc và tên ông từ đó là Pierre de Fermat. 2/ Fermat không phải là nhà toán học chuyên nghiệp Người ta đã biết nhiều đến Fermat qua việc làm cùng các công trình nghiên cứu của ông và sự giao dịch giữa ông với những nhà trí thức đồng thời với ông. Vào thế kỷ thứ 17, đã có một sự phát triển nhanh chóng về khoa học và văn hóa, đưa đến nhiều phát minh trong đó có những khám phá của Fermat. Tuy nhiên thế giới khoa học lúc đó chưa được tổ chức, và chưa có nghề chuyên về toán học. Fermat cũng như những nhà thông thái đồng thời với ông khi đó, không phải là một nhà toán học chuyên nghiệp. Phần lớn những người say mê toán học là những người ở trong ngành luật : Viète là một luật sư, Despagnet là nghị viên trong Nghị viện thành phố Bordeaux. Còn Carcavi, con một chủ ngân hàng, đang mới vào làm nghị viên trong Nghị viện thành phố Toulouse. Tại đây, Carvani đã làm quen với Fermat, và hai người đã trở thành bạn tâm giao suốt cuộc đời của họ. Chỉ riêng có Roberval là ngoại lệ mà thôi. Năm 1632, lần đầu tiên Fermat gặp Pierre de Carcavi, một cố vấn khác của Pháp viện Toulouse mà ông đã chia sẻ niềm say mê tóan học. Fermat đã cùng với Carvani và Mersenne giải những bài toán về sự rơi các vật mà Galilée đã đưa ra. Không phải lúc nào Fermat cũng luôn luôn đồng ý với René Descartes: Descartes giải bằng hình học còn Fermat đi trực tiếp bằng phương trình đại số để vẽ đường cong. Fermat đã có những công trình về toán giải tích dựa trên căn bản toán vi phân màIsaac Newton (1643 ; 1727) và Gottfried Wilhelm von Leibniz (1646-1716) đã tiếp nối sau đó. Fermat đi sát tới khái niệm về đạo hàm để tìm điểm cực tiểu và cực đại cho những hàm số đa thức và phát triển phương pháp tích phân gần giống như cái mà chúng ta đang dùng hiện tại. Những hoạt động khoa học không chuyên nghiệp của ông làm ông được xem như một thiên tài lúc bấy giờ. Ông yêu toán, thích chứng minh và đề nghị nhiều phương pháp mới mẻ. Tuy nhiên ông chỉ trao đổi thư từ với các nhà khoa học khác như Galilée (1564 ; 1642), René Descartes (1596 ; 1650), Blaise Pascal (1623 ; 1662) ou Marin Mersenne (1588 ; 1648). Nhưng cái làm cho Fermat đam mê là những bài toán thời cổ đại. Ông trình bày và phát triển các công trình số học của Pythagore thành Samos (-569 ; -475), Euclide thành Alexandrie (-320 ; -260), Archimède thành Syracuse (-287 ; -212), Eudoxe thành Cnide (-408 ; -355) và Diophante của Alexandrie (thế kỷ thứ 3 niên đại chúng ta). Chính trong tác phẩm của ông này mà Số học của Fermat chất chứa mọi nghiên cứu trên lý tghuyết các số. Ông để lại nhiều đề toán chưa chưa chứng minh mà nhà toán học Leonhard Euler (1707 ; 1783) sẽ giải sau này. Đặc biệt là giả định Fermat: Phương trình x^n + y^n = z^n không có nghiệm số với x, y, z >0 và n>2 Tác phẩm này Fermat viết và con trai ông đã in ra ngay sau khi ông mất. Tóm lại, Fermat là nhà đại toán học không chuyên nghiệp nhưng đã để lại cho nhân loại rất nhiều: 3/ Những công trình của Fermat *** Tổng quát Ông phát minh ra rất nhiều thuyết. Chúng ta chỉ biết về các công trình và những ý tưởng của ông nhờ những lời dẫn giải trong các tác phẩm của ông và rất nhiều thư từ ông đã viết cho các nhà bác học đồng thời với ông. May thay, Samuel-Clément Fermat đã ráng tìm giữ lại được những tài liệu đó. Nên một phần tác phẩm của Fermat đã được in ra vào cuối thế kỷ thứ 17, rồi tái bản vào thế kỷ thứ 19. Và đang dần dần tái bản trở lại. Không có tác phẩm nào được in ra trong lúc Fermat còn sống. Người ta tìm lại được bài viết về hình học được ra mắt năm 1660, phụ bản của quyển viết về cycloïde và ký những chữ cái đứng đầu của tên ông, do cha đạo Antoine de Laloubère in tại Toulouse. Năm 1670, năm năm sau khi cha mất, Samuel Fermat cho ra mắt quyển Diophante của Bachet de Méziriac chính tay Pierre Fermat chú giải cùng với một số thư từ của ông. Năm 1675 các kết quả của nghiên cứu của học được Christiaan Huygens (1629 ; 1695) in ra trong tác phẩm "De ratiociniis in ludo aleae". Năm 1679, Samuel in ra dưới tựa đề Varia Opera Mathématica, những tác phẩm của cha mà ông đã gom góp lại. Đầu thế kỷ thứ 19, người ta chép lại những bài viết của Fermat đã giữ lại được từ thời Marin Mersenne (1588 ; 1648) đem cất tại tu viện Minimes Paris. Phải đợi cuối thế kỷ 19, hơn 230 năm sau khi ông mất người ta mới tìm thất tất cả những tác phẩm của Fermat. Mặc dù từ khi được tin ông mất, những người cùng thời đã có ý quan tâm đến sự lưu trữ những công trình nghiên cứu của ông. Như thư của Christiaan Huygens (1629 ; 1695) viết cho Pierre de Carcavi (1600-1684): "J'espère cependant qu'on ne laissera pas perdre ce qu'il reste de ses écrits, et puis que vous avez toujours esté de ses intimes amis, je ne doute pas que vostre intervention auprès de ses héritiers ne soit de grande efficace pour tirer de l'obscurité de si excellentes reliques". Năm 1843, bộ trưởng bộ văn hóa cho ra một dự án in toàn bộ tác phẩm của Fermat bằng ngân quỹ nhà nước. Năm 1844, Guillaume Libri loan tin có đọc thấy một bài báo trong tờ Journal des Savants ra năm 1839 viết rằng đã tìm thấy được một số thư từ của Fermat chưa từng xuất bản được bán tại Metz. Guillaume Libri giao cho Théodore Despeyrous, một nhà toán học trẻ tuổi đầy hứa hẹn, gốc tại Beaumont de Lomagne lo dự án in ấn các tác phẩm của Fermat. Guillaume Libri đã kéo dài dự án cho tới năm 1848 người ta mới khám phá ra là ông ta đã biển thủ, bán các tác phẩm và bản thảo viết tay của Fermat 1879, Charles Henry in ra một tác phẩm tựa đề "Nghiên cứu các bản thảo của Pierre de Fermat" (Recherches sur les manuscrits de Pierre de Fermat). Liền sau đó ông nhận thư của ông Hoàng Baldassare Boncompagni báo tin là ông ta có giữ hai bản thảo chứa những bài viết chưa hề được in của Fermat mà ông sẵn sàng in ra. 16 tháng 2, 1882, một đề nghị cho ra luật mới: các tác phẩm chuẩn bị in sẽ được giao phó cho Paul Tannery và Charles Henry, in ấn sẽ do nhà xuất bản Gauthier Villars. Năm 1896, cuối cùng các tác phẩm của Fermat đã được in ra thành 4 cuốn, nhờ đó mà các thế hệ sau tìm hiểu phần nào các công trình của ông. http://www.cdg82.fr/beaumont/histoire/fermat/genie.htm Như đã nói trên, Fermat đã viết rất nhiều. Sau đây là một vài lý thuyết tượng trưng của ông: a) Lý thuyết số - Ông có sự đóng góp thiết yếu cho Lý thuyết số. Fermat để lại nhiều định lý không chứng minh; Euler đã chứng minh một số lớn. Ông nghiên cứu số học thâm cứu (arithmétiques approfondies) b) Xác suất - Ông là người tiên phong, trao đổi nhau qua thư từ với Blaise Pascal về Phép tính xác suất "Trong trò chơi súc sắc, phải thảy bao nhiêu lần với 2 con súc sắc mới hy vọng có hai mặt sáu?" c) Hình học giải tích - Ông xây dựng cùng lúc với Descartes ngành Hình học giải tích * Sáng chế phương pháp toạ độ để định vị trí một điểm trong một mặt phẳng. * Quan niệm các đường cong như những quỹ tích các điểm (nghĩa là tổng hợp các điểm để xác định một đẳng thức.) * Người đầu tiên khởi xướng phương pháp tổng quát để xác định các tiếp tuyến tới một đường cong phẳng. * Hợp nhất hai lãnh vực đại số và hình học. Là người mở đầu cho phép tính vi phân, ông có sự đóng góp thiết yếu cho Lý thuyết số. Sau cùng với Pascal, ông là người xuất xứ của phép tính xác suất.
d) Toán vi phân - Là người mở đầu cho phép tính vi phân
a p - (a chia chẵn cho p) p là số nguyên tố (nombre premier) Chia một số lũy thừa p cho p sẽ có cùng số dư
f) Định lý cuối cùng của Fermat: Năm 1840, tất cả các giả định đều được chứng minh hay không đúng Trừ một : giả định gọi là định lý lớn của Fermat đã được Andrew Wiles giải tháng 9 năm 1994 Một hệ thức chỉ diễn tả một cách giản dị là X^n + Y^n = Z^n Không có một lời giải nào khi n là số nguyên và n > 2
Công thức chính xác: Nếu n là một số nguyên lớn hơn 2; đẳng thức X^n + Y^n = Z^n vô nghiệm, với X, Y, X khác không
F = 2^(2^n) + 1= Dn + 1 F là Fermat D là lũy thừa hai (Deux)
2^k + 1 với k = 2^n i) Đẳng thức Pell-Fermat: y² - ax² = ± 1 Bất cứ số nguyên tố nào có dạng 4n+1 là tổng của hai số bình phương (Được chứng minh bởi Euler) Bất cứ số nào cũng tự phân tích ra thành 3 theo hình tam giác, 4 theo hình vuông, 5 theo hình ngũ giác... http://membres.lycos.fr/villemingerard/Geometri/Image926.gif Thay vi tong so cac luy thua 4 , nen viet : tong cuanhung luy thua bac 4 . j) Tổng của những lũy thừa bậc 4 Đẳng thức s^4 + t^4 = 1 không có nghiệm số nguyên http://membres.lycos.fr/villemingerard/Addition/Partiti2.htm#courbes4 Couple amiable: 17 296 et 18 416 (4e paire) http://membres.lycos.fr/villemingerard/Decompos/Fermat.htm#fermat k) Cách phản chứng Fermat cũng cho ta chứng minh bằng phản chứng, giả sử ngược với sự thật để đưa tới chủ đích là sự trái ngược không thể chấp nhận. Thí dụ: Giả sử có hai giả thiết: Socrate là người Tất cả mọi người đều phải chết Dùng lối phản chứng để chứng minh là "Socrate phải chết." Muốn vậy, chúng ta giả sử ngược lại: "Socrate bất tử" Mà bởi vì "Tất cả mọi người đều phải chết", như vậy "Socrate không phải là người". Nhưng điều này trái ngược với giả thiết đầu là "Socrate là người" Vậy thì giả sử khởi đầu "Socrate bất tử" là sai, ngược lại sẽ đúng: "Socrate phải chết" http://www.col-camus-soufflenheim.ac-strasbourg.fr/ 5/ Link tới những trang nói về Fermat Beaumont-de-Lomagne Dictionnaire des nombres Bibmath Académie de Bordeaux Bibliographie
Vùng Siberia không chỉ nổi tiếng về sự giàu có của Thiên nhiên và sự khắc nghiệt của khí hậu. Nó còn che giấu nhiều bí mật, giấu đâu đó trong rừng mà những người tìm kiếm không ngừng sục sạo. Các nhà nghiên cứu còn cho rằng không ít lần những vị khách từ hành tinh khác đã đến nơi đây.
Dưới đây là một bài báo đăng trên Pravda, tờ báo từng có uy tín ở Liên Xô cũ. Viktor C từ Tchita năm 1954 đã gặp trong rừng Taiga một người đi săn, mặt đầy những đốm màu nâu, tay quấn băng. Người đi săn kể ông ta bị một bệnh nào đó – da ông nóng và xèo xèo như đang cháy. Khi ông ta tháo băng ra, Victor và cậu em thấy một chuyện lạ - tay ông ta sáng lấp lánh trong bóng tối. Đâu các ngón tay lập lòe những tia lửa, thậm chí làm bốc cháy cả tờ báo ở trên bàn. Không nghi ngờ gì nữa, đó là các tia phóng xạ. Theo một giả thuyết, trên lãnh thổ Siberia có nhiều bãi đáp cho những người từ hành tinh khác đến. Các dụng cụ đo có thể khẳng định những tia phóng xạ này. Năm 1991, tờ báo Canada “Weekly World News” thông báo: năm 1987, quân đội Liên Xô đã bắn rơi một vật thể bay không xác định (UFO) tại vùng rừng Taiga của Siberia. Báo chí Liên Xô hồi đó không tiết lộ tin tức này. Theo lời của phóng viên Washington Post là Nick Mann, ngày 13/11/1987, vào lúc 8 giờ 35 sáng, đơn vị quân đội đã phát hiện một “đĩa bay” nhờ rađar và đã bắn rơi vật thể này bằng tên lửa, Đối tượng rơi xuống đất và vỡ tan. Tiếp đó, Mann viết, trong số những mảnh vỡ có một loài sinh vật đầu to, thở bằng vòi chứ không bằng mũi. Họ nối tay vào nhau qua một sợi xích và đột nhiên… họ bị hút vào quả cầu. Quả cầu gầm rú rồi trở nên trắng như tuyết. Nó nở phình ra rồi nổ tung. Hai người lính đã kể lại cho Mann chuyện này và cho biết 23 người khách lạ chết tại chỗ. Các chuyên gia giám định đã chỉ ra rằng thành phần hóa học trên thi hài những người bị chết làm bằng… đá. Các nhà nghiên cứu kết luận, một nguồn năng lượng bí mật đã tác động lên người họ, làm cơ thể họ bị biến dạng hẳn. Một câu chuyện khác ky kỳ không kém, ghi lại theo lời kể của một người Nga di cư tên là Serguei L, vốn là nhà địa chất học cho phóng viên tờ báo Mỹ là Patrick Macroudi. Chuyện là: Năm 1989, Serguei theo đoàn thăm dò địa chất đến vùng Nam Iakutin, một nhánh của dãy núi Amginski. Một lần Serguei L. một mình đi sâu vào rừng đã gặp một kẻ lạ mặt trong bộ quần áo xám, trán dô, không có tóc, da vàng có nhiều vết đốm trên mặt giống như một tử thi. Trông thấy ông, lão ta quay mình chạy. Serguei quyết định ngầm theo dõi. Ông yên tâm vì trong tay có một khẩu súng săn. Khi ra đến một trảng cỏ, có ngôi nhà bằng gỗ ván ghép lại, xung quanh rào dây thép gai, ông thấy một nhóm người đi theo lão ta, mặc đồng phục không có cầu vai kiểu công nhân mỏ. Nhìn thấy những người này, ông biết họ cũng là những người thường, khác hẳn kẻ lạ mặt kia: màu sắc trên mặt luôn luôn biến đổi: vàng, xanh, đỏ, lá cây tỏa ra ánh sáng ma quái, không có tai và mũi, bàn tay chỉ có ba ngón. Từ trong ngôi nhà gỗ, một người bước ra, lấy kim tiêm lấy máu của từng người mang phân tích trên một dụng cụ tựa như chiếc máy đến hạt Geyger. Tất cả diễn ra như trong một bộ phim kinh dị. Con chó trong “tại” sủa lên mấy tiếng khi thấy Serguei. Ông bỏ chạy. Những người áo xám đuổi theo ông, chắc chắn sẽ giết ông để bịt đầu mối. Hai tên quái nhân đuổi kịp ông. Serguei nâng súng lên bắn. Chúng gục xuống, nhưng thoáng chốc, lại vùng ngay dậy, lảo đảo một lúc rồi mới chịu chịu nằm yên. Mãi chiều tối, Serguei mới về đến căn lều của mình. Rất có thể, đó là một trại mà những kẻ lạ mặt đã bắt những người thợ mỏ ở gần đó, chiếu bức xạ vào họ để thay đổi gen của họ khiến họ biến thành một chủng người khác trong những điều kiện biệt lập. Những kẻ lạ mặt là ai, chúng từ đâu tới? Phải chăng chúng từ ngoài Trái đất, từng xuống lập một cơ sở nghiên cứu trong rừng thẳm Siberia? Nguồn: Правде.Ру
Không phải âm thanh do con người, hay bất cứ loài động vật hoặc thực vật nào tạo ra. Đó là những âm thanh bí ẩn, thậm chí quái lạ chưa có lời đáp về nguồn gốc...
1. “The Bloop”
Âm thanh kì bí đầu tiên mà chúng tớ muốn giới thiệu đó là “The Bloop”, một loại âm thanh đã làm điên đầu các nhà khoa học từ nhiều năm nay. Suốt mùa hè năm 1997, thứ âm thanh có tần số siêu thấp này thường xuyên xuất hiện, âm lượng càng lúc càng lớn và kéo dài trong khoảng 1 phút. Âm thanh này được phát hiện bởi Ban Quản Lý Biển và Khí Quyển Quốc Gia Hoa Kỳ. Thứ âm thanh này lớn đến mức có thể nghe thấy qua thiết bị đa cảm biến ở khoảng cách xa tới… 5000km!!! Các nhà khoa học đã đặt cho nó cái tên “The Bloop” để phân biệt với âm thanh “Boing”.
Mặc dù thứ âm thành này trùng hợp với mô tả về âm thanh của một loài động vật sống, nhưng lại có âm lượng lớn đến mức không một loại sinh vật nào có đủ khả năng tạo ra được. Con mực khổng lồ nhất mà chúng ta từng phát hiện được dài tới 18m (bao gồm cả xúc tu), nhưng cũng còn quá nhỏ bé để đủ sức phát ra thứ âm thanh này. Nếu quả thực có một sinh vật như thế tồn tại thì nó phải lớn hơn loài cá voi khổng lồ nhất của chúng ta rất, rất nhiều lần.
Nhiều người đã đặt ra giả thuyết, liệu “Bloop” có phải âm thanh do một con quái vật biển nào đó tạo ra không? Họ liên tưởng đến quái vật Cthulhu, một sinh vật huyền thoại trong truyện của nhà văn H.P.Lovecraft nổi tiếng. Cthulhu phát ra tiếng kêu bí ẩn gần một thành phố đã chìm dưới biển sâu mang tên R’lyeh, cũng trong cuốn truyện của Lovecraft . Âm thanh “Bloop” này thậm chí đã được đem vào một game truyền bá cho bộ phim Cloverfield. Bạn cũng có thể nghe âm thanh này trong phim “The Loch” nói về quái vật huyền thoại của hồ Lochness. Cho đến tận ngày nay, người ta vẫn không sao tìm ra nguồn gốc của thứ âm thanh kì lạ này. Nó gây cho người nghe cảm giác gần giống như đang bị nhấn chìm dưới hàng ngàn mét khối nước biển, bao quanh là màn đêm tăm tối đáng sợ…
2. “The Hum”
“The Hum” là cái tên được đặt cho một loại âm thanh tần số thấp nghe giống như tiếng rền hoặc tiếng sôi ùng ục. Âm thanh này loài người có thể nghe được, thường là khi nó xuất hiện thì rất nhiều người sẽ nghe thấy cùng lúc. “The Hum” có thể chỉ thoáng qua hoặc cũng có thể kéo dài liên tục . Có rất nhiều địa điểm trên thế giới đã trở nên nổi tiếng bởi thứ âm thanh này, tiêu biểu là làng Taos Hum và khu Bristol Hum.
Mặc dù nhiều người từng nghe thấy “The Hum” nhưng lại hết sức khó khăn để ghi âm được nó, việc xác định xem nó bắt nguồn từ đâu cũng gần như là bất khả thi. Lý do cho việc này có lẽ bởi nó là loại âm thanh có tần số thấp, rất khó “bắt” được nguồn sinh âm. Những nơi thường có loại âm thanh này nhất được ghi nhận là ở Châu Âu và Nam Mỹ. Người ta thường xuyên nghe thấy nó ngay trong… ngôi nhà mình , có người lại nghe thấy nó nhỏ hơn, có người lại nghe thấy nó to và rõ hơn. Đây cũng là một điểm khiến “The Hum” càng trở nên bí ẩn bội phần.
Làng Taos Hum đã xuất hiện trong chương trình X-files và cả “Những bí ẩn chưa có lời đáp”. Cũng có 1 số loại “The Hum” đã tìm được nguồn gốc, ví dụ như trường hợp ở Kokomo, bang Indiana, Mỹ. Âm thanh mà người ta tưởng là “The Hum” ở đây hóa ra chỉ là quạt thông gió của một máy điều hòa, nó phát ra âm với tần số 36Hz lan tỏa khắp thằng phố Kokomo nói trên. Thế nhưng rất ít trường hợp tìm được lời đáp như vậy, đa số “the hum” đều không có nguồn gốc. Một số nhà khoa học cho rằng “The Hum” có thể là do các yếu tố địa chất, sóng âm cực ngắn, sóng điện từ của các mảnh thiên thạch hay thậm chí là do người nghe bị... ù tai . Giả thuyết cuối có vẻ không thuyết phục lắm vì rất nhiều người đã cùng lúc nghe thấy “The Hum” với cường độ rất khác nhau. Chuyện “ù tai” cùng lúc với mức độ khác nhau có vẻ là điểu khó xảy ra.
3. “The Hell Hole” - lỗ hổng địa ngục
Hơn 40 năm trước, các nhà khoa học của Nga đã bắt đầu một dự án đầy tham vọng: xâm nhập qua lớp vỏ ngoài của Trái đất và lấy mẫu nhiệt độ và khám phá về một thế giới khác mà loài người chưa từng biết đến: vùng gián đoạn Mohorovičić, hay còn gọi là “Moho”.
Công nghệ thời bấy giờ chưa từng xuyên sâu vào lòng đất đến mức đó, nên các nhà khoa học Nga đã sáng chế ra một cách hoàn toàn mới để thực hiên điều khó khăn đó. Không may là họ đã chẳng thể đạt được mục đích đặt ra, những bí mật của lòng đất bí ẩn vẫn còn đó. Khi công việc khoan đào chấm dứt năm 1994, lỗ hổng mà họ đang khoan dở mang tên Kola Superdeep Borehole đã đạt độ sâu 7 dặm, trở thành lỗ hổng nhân tạo sâu nhất thế giới. Lõi đá cuối cùng được đem lên từ lỗ hổng này được xác định có niên đại từ 2,7 tỉ năm trước
Nhiều lời đồn đã cho rằng đây thực chất là một nỗ lực muốn chạm đến… địa ngục được cho là nằm sâu trong lòng đất của con người. Thậm chí có những lời giải thích cho rằng bằng cách nào đó “cửa địa ngục” đã được hé mở, hoặc “chạm đến” . Dưới đây là những lời giải thích đó: 1. Sau khi tiến hành đào được vài dặm, mũi khoan bắt đầu quay điên cuồng khó kiểm soát.
2. Một vị tiến sĩ tên là Azzakov đã khẳng định rằng ông ta có bằng chứng rằng bên trong lòng Trái Đất giống như một lỗ hổng rỗng.
3. Nhiệt độ ở đó cao khủng khiếp, cao hơn cả những dự tính của các nhà khoa học. Thường thường nhiệt độ ở đó phải đạt đến ngưỡng 1,100 độ C.
4. Khi các máy thu âm được đưa xuống lỗ hổng để thu lại “những âm thanh về sự dịch chuyển của Trái Đất”, người ta nghe thấy những tiếng gào thét được cho là của những “linh hồn bị nguyền rủa.”
5. Rất nhiều nhà khoa học đã từ bỏ dự án này vì hoảng sợ cực độ hoặc bị khủng hoảng tâm lý nặng nề.
Dĩ nhiên những điều trên không thể hoàn toàn là sự thật, chúng được lý giải lại như sau:
1. Nếu trái đất là một lỗ hổng rỗng thì các thí nghiệm và nghiên cứu địa chất đã nhận thấy từ lâu
2. Nhiệt độ cao là lẽ đương nhiên bởi sức nóng sẽ tăng thêm 1 độ C trong khoảng 100 đến 3000m, rồi sau đó là 2,5 độ C ở mỗi 100m tiếp theo. Với độ sâu 10,000m, nhiệt độ đã lên đến 180 độ C.
Người đàn ông giấu danh tính tiết lộ về "lỗ hổng địa ngục". Câu chuyện “địa ngục” này tất nhiên được dựa trên những sự kiện có thật cũng như những nhân chứng có thật. Và dưới đây là lời hé lộ của một nhân vật đã từng tham gia dự án trên:
“Chúng tôi đưa micro xuống sâu hơn để thu những âm thanh về sự dịch chuyển bên trong lòng đất. Nhưng thay vì những âm thanh của sự xê dịch, chúng tôi nghe thấy những tiếng hét thất thanh vì đau đớn. Ban đầu chúng tôi cho rằng đó là âm thanh phát ra từ dụng cụ của mình. Thế nhưng càng về sau, chúng tôi càng nghe thấy rõ rệt hơn… đó không phải tiếng hét của một người, mà là của hàng triệu con người…”.
Nhân loại liệu có đứng trước một thảm họa nữa không khi nhà tiên tri lừng danh thế giới - Baba Vanga dự đoán Chiến tranh Thế giới Thứ 3 sẽ nổ ra vào năm 2010. Nếu như trước kia ít ai để ý thì trong bối cảnh suy thoái kinh tế như hiện nay, ai cũng hiểu một cuộc chiến tranh thế giới nổ ra có thể thiết lập lại một trật tự thế giới mới một cách toàn diện và triệt để. Vậy phải chăng tiên đoán của Vanga sẽ trở thành hiện thực?
Hồi sinh từ cát bụi
Vanga sinh ngày 31/1/1911, mất ngày 11/8/1996. Bà sống ẩn dật cả đời ở vùng hẻo lánh Kozhuth thuộc Petrich, Bungary. Vanga mất thị lực năm 12 tuổi sau khi bị cuốn đi bởi một cơn lốc lớn. Người ta tìm thấy cô gái nhỏ vẫn còn thoi thóp hơi thở nằm vùi lấp giữa bụi và đá, hai hốc mắt chứa đầy cát. Vanga làm bạn với bóng tối từ đó. Lời tiên tri đầu tiên của Vanga được ghi nhận là vào năm bà 16 tuổi. Bà giúp cha mình tìm lại bầy cừu bị mất trộm bằng cách mô tả chính xác về cái sân nơi bọn trộm cất giấu đàn gia súc. Tuy nhiên, khả năng tiên tri của Vanga chỉ thực sự đạt đến độ chín năm 30 tuổi. Nhiều người tìm đến bà để xin những lời tiên tri. Trong đó có cả “kẻ hủy diệt” Adolf Hitler. Hitler từng ghé thăm nhà Vanga và rời đi với gương mặt nặng trĩu.
Không có nhiều người tin vào tiên đoán của những nhà tiên tri. Tuy nhiên, người ta không thể làm ngơ khi những tiên đoán đó thành hiện thực. Vanga trở nên nổi tiếng vì những tiên đoán “thần thánh” của bà về những thảm họa toàn cầu. Độ chính xác của những lời tiên tri này khiến loài người giật mình hoài nghi: Liệu có thực sự tồn tại một thế lực siêu nhiên? Biết bao giấy mực đã cất công nghiên cứu để giải đáp về “bí ẩn Vanga”.
Ví dụ, Vanga từng tiên đoán về vụ tấn công khủng bố ngày 11/9 ở Mỹ, khi bà nói rằng “người Mỹ sẽ ngã xuống dưới sự tấn công của những con chim sắt”. Nhà tiên tri cũng dự đoán chính xác sự bùng nổ Đại chiến thế giới thứ 2, cải tổ kinh tế chính trị ở Liên bang Xô Viết cũ, cái chết của công nương Diana và thậm chí vụ chìm tàu ngầm nguyên tử Kursk.
Năm 1980, nhà tiên tri mù nói rằng: “Vào thời điểm chuyển giao thế kỷ, tháng 8 năm 1999 hoặc năm 2000, Krusk sẽ ngập chìm trong nước, cả thế giới sẽ đau buồn về điều này”.. Ở thời điểm đó, người ta không mấy bận tâm đến lời tiên liệu trên. Tuy nhiên, 20 năm sau, loài người đã phải sững sờ kinh ngạc. Một tàu ngầm nguyên tử của Nga gặp nạn tháng 8/2000. Toàn bộ thủy thủ đoàn bỏ mạng dưới đáy đại dương. Và kỳ lạ thay, con tàu xấu số được đặt theo chính tên thành phố Krusk.
Các chuyên gia thấy rằng nhà tiên tri huyền thoại này đã đưa ra những cảnh báo chính xác về các sự kiện liên quan đến căng thẳng vũ trang ở Nam Ossetia. Vanga nói chiến tranh thế giới thứ ba là hệ quả tất yếu của sự đấu tranh sinh tồn giữa bốn người đứng đầu các chính phủ và sự xung đột của những người theo đạo Hindu. Nhân loại liệu có đứng trước một thảm họa nữa không khi Vanga dự đoán chiến tranh thế giới thứ 3 sẽ nổ ra vào năm 2010.
Cuộc đời là những thước phim
Vanga không biết chữ, bà cũng chưa từng viết một cuốn sách nào. Giọng nói của bà rất khó nghe và nặng thổ ngữ. Những gì Vanga nói hoặc được cho là do bà tiên đoán chủ yếu được ghi chép lại bởi những người xung quanh bà. Sau này, vô số những quyển sách bí truyền về cuộc đời và những tiên đoán của Vanga đã được viết ra.
Theo Vanga thì khả năng phi thường của bà liên quan đến sự hiện diện của những sinh vật vô hình, dù bà không thể giải thích rõ ràng nguồn gốc của chúng. Những sinh vật đó cho bà thông tin về con người. Cuộc sống của tất cả mọi người đứng trước bà hiển hiện giống như những thước phim từ lúc sinh ra đến khi nằm xuống. Tuy nhiên bà không có quyền năng thay đổi số phận.
Vanga từng dự đoán về những đứa trẻ mới chào đời và cả những sinh linh chưa ra đời. Bà cũng tuyên bố rằng bà đang “nhìn thấy” và “nói chuyện” với những người đã chết cách đây hàng trăm năm. Vanga thậm chí bảo rằng những người ngoài hành tinh đã đang sống trên trái đất từ rất lâu rồi. Họ đến từ những hành tinh mà ở đó dùng thứ ngôn ngữ Vamfirm.
Những người theo Vanga tin rằng bà biết chính xác ngày chết của mình. Và chỉ không lâu trước ngày đó, bà nói có một cô bé tóc vàng 10 tuổi sống ở Pháp sẽ thừa hưởng những khả năng trời phú của bà, và rằng loài người sẽ sớm tìm ra cô bé đó.
Những lời tiên đoán kinh hoàng về tương lai
Theo lời của Vanga, trong tương lai không xa sẽ xảy ra các vụ mưu sát 4 nhà lãnh đạo chính phủ. Những cuộc xung đột ở Indostan (phần đất ở Nam Á bao gồm Ấn Độ, Afghanistan, Pakistan, Trung Quốc, Tây Tạng) sẽ là một trong những nguyên nhân chính mở màn cho cuộc chiến tranh thế giới thứ 3.
Năm 2010 - Năm bắt đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ 3: Cuộc chiến tranh này sẽ bắt đầu vào tháng 11/2010 và kết thúc vào tháng 10/2014. Ban đầu, cuộc chiến tranh diễn ra bình thường, tiếp đó sẽ xuất hiện hàng loạt vũ khí hạt nhân và cuối cùng là vũ khí hóa học.
Năm 2011 - Không một loài động vật, thực vật nào ở Bắc bán cầu có thể sống được do kết quả của quá trình lắng cặn chất phóng xạ. Tiếp đó, những người Hồi giáo (người theo Đạo Hồi) sẽ bắt đầu một cuộc chiến tranh hóa học chống lại người Châu Âu.
Năm 2014 - Phần lớn loài người sẽ bị mắc chứng bệnh mưng mủ, ung thư da và các loại bệnh khác về da do hậu quả cuộc chiến tranh hóa học.
Năm 2016 - Châu Âu gần như không có người sinh sống.
Năm 2018 - Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc thế giới mới. Những nước phát triển sẽ trở thành kẻ bóc lột các nước khác từ việc khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản.
Năm 2023 - Quỹ đạo Trái đất thay đổi.
Năm 2025 - Xuất hiện một bộ phận nhỏ người di cư đến Châu Âu.
Năm 2028 - Loài người sẽ tạo ra một nguồn năng lượng mới, kiểm soát được các phản ứng nhiệt hạch và nạn đói dần dần được khắc phục. Cũng trong thời gian này, con tàu vũ trụ có người lái lần đầu tiên sẽ đổ bộ lên sao Kim.
Năm 2033 - Băng ở các vùng cực sẽ tan chảy. Mực nước ở Thái Bình Dương sẽ dâng cao.
Năm 2043 - Nền kinh tế thế giới phát triển rất phồn thịnh. Người Hồi giáo sẽ cai trị toàn bộ lãnh thổ Châu Âu.
Năm 2046 - Bất kỳ cơ quan nào trong cơ thể người điều có thể được tiến hành cấy ghép. Việc thay thế các cơ quan trong cơ thể sẽ trở thành một trong những phương pháp chữa bệnh hữu hiệu nhất.
Năm 2066 - Trong lúc tấn công thành Roma của người hồi giáo, Mỹ sẽ lợi dụng một loại hình vũ khí mới - vũ khí thời tiết. Trong thời gian này, trời trở lạnh đột ngột.
Năm 2076 - Xã hội không giai cấp hay còn gọi là Chủ nghĩa Cộng sản hình thành.
Năm 2084 - Loài người Sẽ khôi phục lại thiên nhiên.
Năm 2088 - Xuất hiện một căn bệnh lạ “lão hóa chỉ trong vài giây!!!”.
Năm 2097 - Căn bệnh lão hóa khủng khiếp này sẽ lan tràn trên toàn cầu.
Năm 2100 - Loài người sẽ tạo ra những mặt trời nhân tạo chiếu sáng phần tối của quả đất.
Năm 2111 - Con người sẽ trở nên kiệt sức.
Năm 2123 - sẽ xảy ra các cuộc chiến tranh giữa những nước nhỏ.
Năm 2125 - Tại Hung-ga-ri, người ta sẽ nhận được những tín hiệu lạ từ vũ trụ. Cùng thời gian này, loài người lại một lần nữa tưởng nhớ về nữ tiên tri Vanga.
Năm 2130 - Nhiều vùng đất sẽ bị ngập trong nước.
Năm 2164 - Con người sẽ biến thành một loài động vật kinh dị (nửa người, nửa thú).
Năm 2167 - Xuất hiện tôn giáo mới.
Năm 2170 - Xảy ra một đợt hạn hán kéo dài trên Trái đất.
Năm 2187 - Hai miệng núi lửa lớn nhất thế giới sẽ ngừng quá trình phun trào nham thạch.
Năm 2195 - Những quốc gia dọc bờ biển sẽ trở nên khá giả cả về năng lượng lẫn lương thực.
Năm 2196 - Người Châu Á và Châu Âu sẽ sinh sống trà trộn nhau.
Năm 2201 - Quá trình phản ứng nhiệt hạch trên Mặt trời sẽ chấm dứt và bắt đầu thời kỳ nguội lạnh.
Năm 2221 - Trong quá trình tìm kiếm sự sống ngoài Trái đất, loài người sẽ có cuộc chạm trán rùng rợn.
Năm 2256 - Tàu vũ trụ mang một căn bệnh khủng khiếp về Trái đất.
Năm 2262 - Quỹ đạo của các hành tinh dần bị thay đổi. Cũng thời gian này, sao Chổi sẽ đe dọa đến sự sống còn của sao Hỏa.
Năm 2271 - Các hằng số vật lý lại một lần nữa bị thay đổi.
Năm 2273 - Xảy ra sự xáo trộn giữa các chủng tộc da màu: da vàng, da trắng và da đen. Tiếp đó sẽ xuất hiện các chủng tộc mới.
Năm 2279 - Loài người sẽ lấy năng lượng từ khoảng chân không hoặc từ những lỗ đen.
Năm 2288 - Xuất hiện những cuộc va chạm với người ngoài hành tinh.
Năm 2291 - Mặt trời trở nên nguội lạnh và sau đó lại bùng cháy trở lại.
Năm 2296 - Mặt trời hoạt động mạnh hơn, lực hút vũ trụ bị thay đổi làm cho các trạm vũ trụ và vệ tinh rơi vào tình trạng hỗn loạn, mất phương hướng.
Năm 2299 - Tại Pháp xuất hiện một Đảng mới chống lại người theo Đạo hồi.
Năm 2302 - Phát hiện quy luật và bí mật mới của vũ trụ.
Năm 2304 - Khám phá bí mật Mặt trăng
Năm 2341 - Xuất hiện một thiên thể vô cùng nguy hiểm tiến gần Trái đất.
Năm 2354 - Một trong những mặt trời nhân tạo bị hỏng, kết quả dẫn tới đợt hạn hán kéo dài.
Năm 2371 - Xẩy ra nạn đói lớn.
Năm 2378 - Các bộ tộc mới nhanh chóng được hình thành.
Năm 2480 - Hai mặt trời nhân tạo va vào nhau, Trái đất bị rơi vào tình trạng hỗn loạn.
Năm 3005 - Xuất hiện các “cuộc chiến” mới trên sao Hỏa, quỹ đạo của các hành tinh bị rối loạn.
Năm 3010 - Sao chổi sẽ va vào Mặt trăng, quanh Trái đất lúc này xuất hiện một vành đai toàn đá và bụi.
Năm 3797 - Đây là thời kỳ kết thúc sự sống trên Trái đất. Thời gian này cũng là cơ sở để loài người bắt đầu cuộc sống mới trên một “hệ Mặt trời” khác.